(CVO) – Đền Đại Lộ hay thường gọi là đền Lộ thuộc thôn Đại Lộ, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Từ Hà Nội, đi xuôi theo đê sông Hồng khoảng 13km là đến đền Lộ. Đền án ngữ một vùng cửa sông, lại nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ nên du khách về thăm đền Lộ bằng đường bộ, đường thuỷ đều rất thuận tiện. Lộ là tên gọi tắt của làng Đại Lộ.

Trước năm 1961, làng thuộc xã Ninh Sở, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, nay thuộc huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Theo Ngọc phả “Tứ vị Thánh nương Nam Hải” thì đền thờ bà Thục Phi của vua Đô Tông nhà Tống. Bà họ Triệu, huý Đoan. Khi Đế Bình lên ngôi, quân Nguyên từ phía Bắc tràn xuống, Thừa tướng Lục Tú Phu và Trương Thế Kiệt bèn tìm đường chạy sang An Nam. Bấy  giờ, thuyền qua biển gặp gió bão dữ dội.

Trước đó, Thái hậu cùng ba công chúa cũng theo thuyền lánh nạn, nghe thuyền vua bị đắm, liền đấm ngực than rằng: “Ta liều chết lặn lội đến đây, nay lại gặp rủi ro này thật chẳng còn thiết sống nữa”. Đoạn bà hướng về phía Bắc bái vọng, than khóc một hồi rồi nhảy xuống biển tự tử. Hôm đó là ngày 12 tháng 6. Thi thể của bà trôi theo dòng nước đến đất Hoan Châu, dân địa phương liền vớt lên bờ, thấy vẻ mặt bà vẫn tươi tắn như khi còn sống. Chôn cất bà xong, chỉ trong chốc lát, mối đùn lên thành ngôi mộ lớn. Biết việc này sẽ ứng với điều lành, dân bèn lập đền thờ.

Năm Hưng Long thứ 19 (1311), vua Trần Anh Tông cầm quân xuống phương Nam, đang đêm vua nằm mộng thấy nữ thần đến trước mặt khóc lóc nói rằng: “Thiếp là Thục Phi của vua Tống, bị sóng gió mà gặp nạn ở đây. Nay nhờ Thượng đế khen khí tiết, sắc phong cho thiếp làm hải thần ở đây đã lâu. Chuyến đi này xin được giúp Thánh thượng lập công”. Vua Anh Tông giật mình tỉnh giấc, bèn sai lập đàn tế lễ. Quả nhiên, trận ấy thắng lớn. Lúc khải hoàn, vua tặng phong mỹ tự, sai quan hữu ty lập đền thờ phụng.

Năm Hồng Đức thứ nhất (1470), vua Lê Thánh Tông cùng đại quân đi chinh phạt quân Chiêm, khi qua cửa Càn Hải, vua đến linh từ làm lễ, đề thơ, trong đó có câu:
Hương hoả còn truyền đền Thánh Mẫu,
Sóng xô thức tỉnh giấc Anh Tông.

Sau đó, quan quân tiến thẳng vào thành Đồ Bàn, phá tan giặc. Chiến thắng trở về, vua tôn bà là Quốc mẫu Bá Vương, ban sắc cho các vùng cửa biển tuỳ nghi dựng đền thờ bà. Đời sau, những ai đi thuyền qua biển, gặp gió to sóng cả, nếu thành tâm khấn bà thì đều được bình an.

Lại nói ở làng Lộ, vào cuối đời Trần, khi nước sông dâng cao, người làng thấy có bốn cái nón, trong mỗi cái có một cái nồi làm bằng đất nung trôi vào bờ sông. Sau này hiển báo dân thôn phải làm đền thờ thì mới được yên. Thế là đền Lộ được dựng ngay trên khu đất đình Nhĩ.

Đền thường xuyên được trùng tu. Lần gần đây là vào năm Thành Thái 14 và năm Khải Định thứ 10. Đền Lộ khá lớn và đẹp: “Đằng sau có sông Kim Ngưu nhiễu quanh, đằng trước có sông Nhị Hà làm án, bên tả có bãi hình như con phượng chầu, bên hữu có đống hình như con voi phục…”. Ở trong đền làm thành 10 điện liên tiếp và cột toà phương đình cách 30 thước. Cổng đền xây bốn cột đại trụ, 2 cửa mã ở tầng ngoài, dựng hai nhà bia ghi công đức những người cúng tiền làm vườn hoa, lát sân ngõ bằng gạch Bát Tràng. Ở vườn đền trồng 102 cây nhãn.

Đền Lộ linh thiêng, người làng kể, vào đời Trần, đời Lê, đoạn đê ở gần đền thường bị vỡ. Các quan trên về hàn khẩu mãi không được, sau phải vào đền làm lễ cầu đảo thì hàn khẩu được ngay. Bấy giờ các trấn tâu về Bộ Lễ xin vị thần đền được dự Quốc tế. Vua chuẩn cho, lại ban cho đền 4 chiếc bình sứ vẽ độc long, cùng một chiếc khác vẽ lưỡng long chầu nguyệt.

Hội Lộ hàng năm được mở từ mồng 1 đến mồng 10 tháng 2 âm lịch. Nhưng hội đông đảo nhất là ngày 5 – 6 – 7 tháng 2 vì đó là ngày Thánh đản. Ngày mồng 5 có rước cấp thuỷ, lấy nước từ sông Hồng về đền để dâng cúng quanh năm. Các ngày lễ thường cúng bằng trầu rượu, có khi bằng oản, chè đậu kho. Tế lễ xong, những đồ lễ được đem phân phát suốt làng để toàn dân được hưởng lộc Thánh Mẫu.

Phó giáo sư Trần Lâm Biền cho biết: “Ở vùng ven biển và bên các con sông lớn, người ta thường nhờ Càn Hải Đại Vương – vị thần phù trợ cho người dân biển. Ở đền Lộ, Càn hải Đại vương được hội nhập với tứ vị thánh nương nhà Tống và được dân dã hoá. Sau khi chiêm ngưỡng các tượng mẫu đã được tạo tác khá đẹp, khiến tâm linh người hành hương còn nghĩ đến tứ vị thánh mẫu.

Họ là lực lượng siêu nhiên sáng tạo ra thế giới này, một tôn giáo bản địa được hình thành và phát triển từ khi người Việt trồng lúa nước. Các ý tưởng của người xưa được thể hiện sinh động trong kiến trúc và nghệ thuật trang trí của đền. Ở hai đỉnh cột trụ khá lớn  trước đền là hai con rồng đang cuộn. Rồng cuộn tạo nên mưa. Hai cột hai bên đắp hai con lân, biểu thị sức mạnh và trí tuệ tầng trên. Các mảng chạm gỗ ở toà phương đình cũng thể hiện ước cầu hạnh phúc: phú, quý, thọ, khang, ninh; hình các tia chớp. Chớp gọi mây mưa, tạo nguồn nước…”
Hiện nay đền Lộ là một trong những điểm tham quan của nhiều du khách trong và ngoài nước.

Theo web Cồ Việt, ảnh My Tour
NISAVA TRAVEL!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *